Các pháp Hữu Vi đều "Vô Thường" các ông phải cố gắng tu hành, các Đấng Đạo Sư chỉ là người chỉ đường. Đức Thế Tôn

    Các pháp Hữu Vi đều "Vô Thường" các ông phải cố gắng tu hành, các Đấng Đạo Sư chỉ là người chỉ đường. Đức Thế Tôn

    An Trú Chánh niệm Đằng Trước Mặt

    I. An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt

    Một kỹ thuật mà cho đến nay, có thể nói là đã gần như là thất truyền trong Phật Giáo.

    Giá trị: Anh Sơn (A La Hán ở Đà Lạt) đã từng than thở:

    “Tôi mà biết được cái kỹ thuật An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt và sự mầu nhiệm của nó thì tôi đã không uổng phí thời gian trong vòng 30 năm để tu tập tầm bậy tầm bạ.”

    An Trú Chánh Niệm Với Đề Mục Là Chấm Đỏ

    An trú chánh niệm đằng trước mặt có đề cập đến trong kinh điển nhưng không có một ai biết được hết cái giá trị siêu phàm vượt thánh của nó! Vì sự thật là: rất ít ai biết cách thức An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt!

    Nên nhớ rằng: Kinh Majjhima Nikaya (trung bộ tập 3) kinh số 107. Kinh Ganaka Moggallàna (Ganakamoggallàna sutta) có đề cập đến một trình tự tu tập và trong đó, Đức Phật cũng có nhắc đến chuyện chú ý tỉnh giác khi đi đứng nằm ngồi và sau đó là quy trình "an trú chánh niệm đằng trước mặt" và chỉ có bấy nhiêu mà thôi, còn phần kỹ thuật thì không ai biết nó ra làm sao cả!

    1. Chánh Niệm:

    Chánh niệm là niệm về một niệm thế nào cho cái niệm đó không còn là niệm thì là chánh niệm. Ví dụ: A Di Dà Phật là một niệm. Nhưng khi niệm phóng mạnh cái niệm đó ra đằng trước mặt và đẩy nó ra càng xa càng tốt (cũng đằng trước mặt thôi). Nhờ vào cái niệm có đủ lực này mà mình có thể thành nhất tâm bất loạn được, mà nhất tâm bất loạn là cái sự tiêu hóa của Chánh Niệm vậy!

    À! Ở đây thì niệm từng chữ một:

    AAAaaaaa...

    DDDiiiiiiiiii…

    ĐĐĐààààà…

    PPhậậậậật…

    Lại nữa: Trong câu Chú: Ôm, MaNi Padmê Hùm thì tụi mình lại có kỹ thuật Chánh Niệm như sau để mau nhất tâm bất loạn. Đọc trong tâm và chia ra làm hai bè (giọng) mà hợp ca:

    Bè 1: ÔÔÔôôômmmm

    Bè 2: Ma Ni Pad Mê Hùm

    2. An Trú Chánh Niệm và Chú Tâm:

    "An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt".

    Nó là một trời một vực với cái chuyện chú tâm vào hành động của mình.

    Cái chú tâm vào hành động của mình, nó không dẫn mình đi tới đâu hết vì đó là giai đoạn đầu của "Chánh Niệm".

    Phân tích ra thì thấy liền:

    Khi mình chú tâm vào một mục tiêu Đang Di Động (ở đây là hành động của mình) thì tâm của mình cũng Di Động theo mục tiêu đó.

    Vì hành động này vẫn còn là Động nên không thể dẫn dắt mình vào Chánh Định được.

    3. Chánh Định:

    Là an trú và làm cho đề mục xuất hiện như thật đằng trước mặt bằng sự tập trung tư tưởng (có bốn mức độ sâu dầy riêng biệt từ Sơ tới Tứ thiền).

    Ví dụ: Tu sĩ nhắm mắt lại, và tập trung tư tưởng về một ngọn lửa bằng cách: vẽ nó bằng trí tưởng tượng của mình. Cho tới khi: Linh ảnh của ngọn lửa xuất hiện đằng trước mặt mình rõ ràng như thật (nên nhớ là chỉ có một ngọn lửa thôi, chớ không có đèn đuốc gì ở dưới đó cả!).

    Có thể nói "Chánh Định" được hiểu theo định nghĩa sau đây:

    "An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt", là một cách... đánh vần và ghép chữ khi hành giả gặp chữ "Quán" trong các công thức để vào các mandala (vòng phép hay còn gọi là đàn pháp).

    Để quán cho ra hồn thì hành giả phải có một trình độ tập trung tư tưởng rất là cao. Thể hiện bằng một tâm lực rất là mạnh và kiên cố. Có nghĩa là một khi đã tập trung vào một đề tài hay đề mục nào, thì hành giả rơi ngay vào tình trạng "quên rằng mình đang ở đâu, và mình không còn nghe được những tiếng động bên ngoài nữa".

    Với hai tình trạng trên, hành giả có thể khẳng định rằng mình nay đã có một định lực rất là vững bền. Nếu so sánh với khi hành giả đang ra sức học một ngôn ngữ mới thì hành giả phải qua những bước sau đây:

    - Cách biết mặt chữ.

    - Cao hơn một tý là cách ghép chữ và đánh vần.

    - Cao hơn một tý nữa là cách tránh lỗi chính tả.

    - Cao cấp nhất là cách hành văn sao cho mạch lạc, dễ hiểu, với đầy đủ dấu chấm câu.

    Với bốn yếu tố trên, hành giả có thể tự hào rằng mình đã rành cái ngôn ngữ đó. Thì ngôn ngữ tâm linh cũng phải qua bốn trình độ của sự nhập chánh định:

    1. Sơ Thiền: đề mục xuất hiện ngay đằng trước mặt lâu khoảng 12 giây.

    2. Nhị Thiền: đề mục xuất hiện lâu hơn một tý: hơn 12 giây, và có thể kéo dài đến 40 giây.

    3. Tam Thiền: thì sự xuất hiện lại lâu hơn trên 40 giây và sẽ biến mất vào khoảng 70 giây.

    4. Tứ Thiền: thì sự xuất hiện lại lâu hơn: đề mục xuất hiện trên 70 giây.

    Đến trình độ Tứ Thiền thì hành giả mới có đủ khả năng để... quán cho ra một cái gì đó. Chưa đến trình độ này thì chỉ là... nói không mà thôi! Chớ chưa có thể làm được gì cả. Do vậy mà đệ được các Ngài mách nước cho một công thức chính để có thể vào bất cứ mandala (vòng phép hay đàn pháp) nào. Có thể nói đây là cách hành pháp thuộc thế hệ thứ hai về Mật Tông.

    Và cũng từ đó đệ mới biết rằng:

    Khi "An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt" thì phép lạ liền xảy ra. Kế đó, là cảnh "Tức nước vỡ bờ":

    4. Pháp và Thân

    a) Quán Pháp trên Pháp:

    1. Nhắm mắt 100%, tưởng tượng cái tư thế mình đang nằm/ngồi trên ghế hay trên giường. Khi đã thiện xảo về phép "An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt" rồi thì hành giả có thể mường tượng ra cái thân mình đang đi trên hè phố.

    2. Niệm: "Buồn à! Buồn à!"

    3. Cảm giác buồn rầu y như cái bánh xe bị xì hơi: Cảm giác buồn nó giảm một cái... vèo! Đúng là phép lạ Vipassana

    4. Hành giả được ngay cái tính miễn nhiễm ở trình độ buồn này.

    Có nghĩa là Hành giả sẽ bị buồn lại và chỉ buồn khi cái buồn nó nặng nề hơn tình trạng này. Còn nếu nó nhẹ hơn hay bằng thì cũng chỉ mỉm cười và dư sức qua cầu.

    Như vậy, hai cách quán kia cũng cùng công thức.

    TB: Cũng y như Ngài U Silanda đã đề cập: Chánh định lại nằm ngay trung gian của Chánh niệm và Chánh Huệ nhưng Ngài lại không miêu tả cái kỹ thuật nó ra làm sao.

    b) Khi Niệm Thân:

    Sau một thời gian thực tập và tu sĩ đã tỉnh giác được rồi, thì kế đến là phần kỹ thuật An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt trên "Thân" nó là như thế này:

    Bước thứ nhất:

    Tu sĩ nhắm mắt 100% và nhìn chăm chăm về hướng đằng trước mặt, ngang với tầm nhìn và dùng trí tưởng tượng của mình, tưởng tượng ra một cái hình ellipse (hột vịt mà hai đầu đều bằng nhau) dựng đứng. Thông thường thì khi hình này hiện ra thì đã có một hình ảnh (mờ mờ) của một Con Người ngồi theo thế kiết già và bận áo Thầy Chùa màu vàng. Như vậy trong kỹ thuật An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt với đề mục là "Thân" thì hành giả phải thấy được hai 2 thành phần của Con Người:

    1. Thành phần Hào Quang (là phần không gian trong cái hình ellipse)

    2. Và phần thân thể là cái hình Con Người bận áo Thầy Chùa, đầu trọc ngồi kiết già ở trong cái hình ellipse đó.

    (1) Ý nghĩa:

    Tu sĩ đang bận áo Chánh Pháp và đang thực tập về cách quán hay An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt với đề mục là "Thân" với mục đích là ly khổ (cái đầu trọc).

    (2) Trình độ:

    - Bước thứ nhất (Thấp): Hành giả dùng trí tưởng tượng của mình và bằng cái nhìn chăm chăm vào cái linh ảnh đó và... tô (sơn) nó lên, và làm cho nó thật là rõ, khi cái hình nó nổi lên rõ ràng thì đó là dấu hiệu báo rằng bước thứ nhất đã tạm được.

    - Bước thứ nhì (Cao): Hành giả dùng trí tưởng tượng và... thấy luôn cả bộ xương. Đây là trình độ cao nhất mà hành giả có thể An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt trên đề mục là "Thân".

    (3) Khó khăn:

    Khó vô cùng, vì nó đòi hỏi "nguyên con cái tâm" (Vi tế tâm và Thô Tâm) phải tham gia vào việc quán hay An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt. Do vậy mà tu sĩ phải thật là chú tâm vào công thức quán này, thì nó mới chịu ra. Và phải kiên định lập trường (phải tập cho xong) cũng như tinh tấn đến cao độ, có thể nói là tập "một mất một còn" với nó... thì mới xong cái phần căn bản này!

    (4) Nhận Xét:

    a) Kỳ lạ là: Tuy rằng tu sĩ, đang nằm, hay ngồi trên cái ghế, để quán thì lúc nào hình ảnh của Con Người trong cái hình ellipse cũng đều ngồi ở tư thế Kiết Già! Và lúc nào cũng bận đồ cà sa màu vàng và đầu lúc nào cũng là đầu trọc.

    b) Một khi cái phần căn bản trên đã làm xong thì khi áp dụng kỹ thuật An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt vào Thân, Thọ, Tâm, Pháp thì chỉ là trò hề! Nó rất là dễ làm và có kết quả có thể nói là rất là tức thời!

    (5) Áp dụng:

    a) Hơi thở: áp dụng cho cả hai trình độ (thấp và cao), khi An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt thì tu sĩ sẽ thấy rằng: khi mình thở "ở ngoài này" thì cái ông đang ngồi xếp bằng đó cũng thở y chang như mình! Sự hoạt động đồng bộ này là dấu hiệu của "nguyên con cái tâm" nó đang học và khi nó học thì nó hiểu rằng: Tất cả đều có, khi còn cái phồng xẹp này! Và tất cả sẽ biến mất, khi không còn cái phồng xẹp này nữa (dĩ nhiên).

    Trước đây chỉ có cái "Thô Tâm" nó hiểu mà thôi, còn cái "Vi Tế Tâm" thì nó cứ lăng xăng nên sự hiểu biết này chưa có đủ sức mạnh để ngăn cản những sự xé rào (bỗng dưng mình cảm thấy ưa cái này, thích cái kia), và nhất là những cơn bùng dậy của Tham, Sân, Si sau khi đã... ngủ ngầm một thời gian! Nay, cũng là bổn cũ soạn lại, nhưng lần này thì có cái khác là: Nguyên con cái tâm nó biết và một khi nó biết rõ là như vậy, thì nó tự điều chỉnh.

    Nên chỉ cần vài tuần, hay vài ngày thì nó đã đủ sức mạnh để hiểu rõ cái tình trạng "Vô Duyên" hay sự "Lãng Xẹt" khi mình tham cái này, giận cái kia, hay thích cái nọ! Ái mà dứt được rồi, thì cái gì mà còn?

    Kết quả: Tập như vầy thì cũng đã đủ để vượt siêu thế gian rồi.

    b) Đi (Đứng, Nằm, Ngồi): Chỉ áp dụng cho trình độ cao, hành giả vừa đi vừa quán thấy nguyên cả bộ xương mình cũng đang đi, y chang như mình đang đi ở... ngoài này!

    • Trí Tuệ: Cả bộ xương mà đi đứng nằm ngồi thì rõ ràng là tu sĩ hết còn cái nhìn ở lớp da (ai cũng biết cái nhìn này tạo ra sự phân biệt: có Nam, có Nữ, có Già, có Trẻ, có Đẹp, có Xấu...) mà nó đã vào tới tận cùng xương tủy. Chỉ cần nguyên con cái tâm (gồm cả hai phần: Vi Tế tâm và Thô Tâm) mà thấy được như vậy thì tự nó hiểu rằng không có Nam, không có Nữ, không có Già, không có Trẻ... vì vậy mà nguyên con cái tâm nó dứt được hết các phân biệt này nọ.

    • Kết quả: đi coi vũ sexy thì chỉ thấy bộ xương nó cục cựa, nhìn thấy người đẹp cười thì cũng chỉ thấy có bộ xương nó cười. Tham ái tự dứt: A Na Hàm và A La Hán trong tầm tay.

    Tập tới đây thôi cũng là đủ rồi! Không cần tập thêm cái gì nữa cả.

    c) Thọ, Tâm, Pháp: Ba cái này rất là dễ làm! Chỉ cần tu sĩ chú ý đến cái phần không gian trong cái hình ellipse (cái hào quang).

    Nguyên tắc: Một khi mà nguyên con cái tâm nó đã biết thế nào là đẹp thế nào là xấu thì nó tự động không thèm tham gia vào những hành động hay những suy nghĩ dẫn đến những cái xấu nữa!

    Y như tình trạng đem cứt mà để lên bàn thờ vậy!Nguyên con cái tâm nó không chấp nhận và nó cũng không làm được như vậy luôn.

    Thực tế, khi An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt của "Thân trên Thân" thì nó đã tự động dẫn đến cái chuyện không còn Tham, Sân, hay Si rồi! Nhưng để gọi là "đóng chốt" luôn cái tình trạng này, nên các tu sĩ khác cũng đã cẩn thận cho "nguyên con cái tâm" nó học hỏi và hiểu biết luôn với mục đích là để chừa luôn, không còn thèm Tham Sân Si nữa: Bằng cách cho nguyên con cái tâm nó hiểu rằng những chuyện gì sẽ xảy ra khi mình Tham, Sân và Si.

    c.1. Thực hành:

    Cho tới bây giờ thì khó có cơ hội để mà Sân hận được! Nên chỉ còn hai cách:

    • Nhìn người ta đang Sân hận hay Tham: Sau đó thì nhìn hào quang của người đó. Tu sĩ sẽ thấy nó dơ như cứt vậy! Chỉ cần một lần thôi thì nguyên con cái tâm nó chê và không thèm chơi với ba cái Pháp lăng nhăng này nữa.

    • Hồi tưởng lại ngày xưa: Mình cũng còn giận hờn như ai vậy và tác ý muốn thấy lại cái hào quang của mình ngay vào lúc đó: Liền thấy ông ngồi Kiết Già với cái đầu thì trọc mà lại có cái hào quang quá là dơ dáy!

    Dĩ nhiên chỉ cần làm một lần thôi thì cả nguyên con cái Tâm nó đã thuộc bài và không thèm chơi với ba cái pháp theo kiểu xịt bộp này nữa! Trên đây chỉ bàn đến An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt.

    c.2. Nguyên Tắc Trả Nghiệp

    Nay đệ lại bàn về sự mầu nhiệm của An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt đối với ác nghiệp quá khứ và nguyên tắc trả nghiệp! Muốn bàn về vấn đề này thì nên biết về vài thông số kỹ thuật mà đệ đã thực nghiệm qua: Tất nhiên là khi An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt thì tu sĩ sẽ có thể đo được sự xuất hiện lâu hay mau như thế nào của đề mục. Tuy rằng không chính xác cho lắm nhưng cũng gọi là tàm tạm.

    Và sau khi nhìn lại từ trình độ Tứ Thiền thì đệ đã đúc kết ra được thời gian tối thiểu mà đề mục xuất hiện đằng trước mặt để xác định trình độ tâm linh của cá nhân đó như sau:

    - Hình ảnh đề mục xuất hiện ngay đằng trước mặt, ngang với tầm nhìn và lâu tới 12 giây: Sơ Thiền

    - Hình ảnh đề mục xuất hiện ngay đằng trước mặt, ngang với tầm nhìn và lâu từ 12 tới 40 giây: Nhị Thiền

    - Hình ảnh đề mục xuất hiện ngay đằng trước mặt, ngang với tầm nhìn và lâu từ 40 tới 70 giây: Tam Thiền

    - Hình ảnh đề mục xuất hiện ngay đằng trước mặt, ngang với tầm nhìn và lâu trên 70 giây: Tứ Thiền

    Theo Kinh sách thì:

    Tuổi thọ của Sơ Thiền: từ 1/3 đến 1 A Tăng Kỳ Kiếp

    [1 A Tăng Kỳ là: Một con số một với 47 con số không (từ điển Phật Học của Đoàn Trung Côn)] (Và một kiếp là vài trăm vạn năm ở Trái Đất)

    Tuổi thọ của Nhị Thiền: từ 2 đến 8 Đại A Tăng Kỳ Kiếp.

    Tuổi thọ của Tam Thiền: từ 12 đến 32 Đại A Tăng Kỳ Kiếp.

    Tuổi thọ của Tứ Thiền: từ 500 đến 16000 Đại A Tăng Kỳ Kiếp

    Như vậy tuổi thọ này nó tính ra làm sao đối với một Con Người đang tu tập với cách An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt?

    Ví dụ như là tu sĩ chỉ tới Sơ Thiền có 12 giây đồng hồ:

    Phải hiểu rằng tu sĩ chỉ ở Sơ Thiền chỉ có 12 giây thôi và hiện tượng tuột định liền xảy ra. Lý do là do hết sức, hoặc là do độ nhập Chánh Định chưa có mạnh cho lắm vì chưa quen vậy thôi. Tuy vậy chỉ cần 12 giây vàng son này thôi thì tu sĩ đã có thể bao trùm vài ngàn kiếp ở Trái Đất thuộc về quá khứ!

    Tại sao?

    (Đường trở nên cực kỳ trơn trợt, xin Các Bạn giảm vận tốc đọc lại thật là chậm và suy nghĩ cho kỹ)

    Lý do là vì tu sĩ chết ở Sơ Thiền 12 giây trước đó và tiếp tục sống lại liền ở đây! Do vậy mà cái tuổi thọ mà tu sĩ đã sống 12 giây ở Sơ Thiền, nó... lại bao trùm ngược về quá khứ, Có nghĩa là khi sống 12 giây ở Sơ Thiền thì tu sĩ đã sống tương đương với vài chục ngàn năm ở Trái Đất vào thời quá khứ!

    5. Trả Nghiệp

    Đối với một người không có tu hành (anh A):

    Khi người này (anh A) bị ai đó đá một cú vào đít của mình, thì chỉ có một ý nghĩa duy nhất là: Vì kiếp trước anh A này đã có đá vào đít của người kia một lần! Và chỉ là như vậy mà thôi. Do vậy mà anh A rất là hận người đá vào đít của mình! Vì anh A đâu có biết nguyên nhân hồi kiếp trước đâu nè!

    Đối với người tu tập theo cách An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt thì nghiệp quả cũng sẽ tới với một cú đá vào đít, y như anh A đã bị! Nhưng vì âm hưởng của thời quá khứ (do tuổi thọ 12 giây ở Sơ Thiền) nên nghiệp quả còn mang một tính chất đặc biệt nữa là: Nó lại đại diện cho vài ngàn cú đá ở vào những kiếp quá khứ! Do vậy mà tu sĩ này nhận cú đá với nụ cười trên môi. Vì tu sĩ biết chắc rằng: Mình đã có dịp trả nghiệp vào thời quá khứ nhanh gấp vài ngàn lần so với một phàm phu!

    Vì lý do đó mà Đức Phật Thích Ca chỉ nhắc chừng cho những tu sĩ mới tu, Ngài đã nói:

    - Ông bị muỗi cắn suốt đêm và ông ngủ không được à! Ông nên nhẫn nại...

    6. Phóng Tâm (Nghĩ bậy nghĩ bạ):

    1. Nhắm mắt 100%

    2. An trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt bằng cách: tưởng tượng ra cái tư thế của chính mình (tư thế nằm hay ngồi) trên ghế hay giường.

    3. Khi mình đã thấy rõ tư thế của mình rồi thì Niệm: Nghĩ bậy à! Nghĩ bậy à!

    4. Cảm giác rúng động toàn thân, và liền sau đó là sự thanh tịnh.

    Giải thích: khi An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt thì Thô Tâm và Vi Tế Tâm cùng hoạt động đồng bộ (Sự đồng bộ này sẽ ảnh hưởng đến cái hình ảnh mà Hành Giả thấy được. Có nghĩa là sự đồng bộ càng mạnh thì hình ảnh càng rõ ràng. Và khi mình niệm một tình trạng mất thằng bằng (ở đây là tình trạng "nghĩ bậy") thì lập tức có một sự tự điều chỉnh (Vô Sư Trí chăng?), chấn động tự điều chỉnh này ảnh hưởng từ cái hào quang, qua các trung tâm năng lực và vào hệ thần kinh. Sự rúng động này rất là mãnh liệt và có hiệu năng dập tắt tất cả những tạp nhiễm trải dài từ Thô Tâm và ảnh hưởng đến Vi Tế Tâm! Do cái tình trạng thấm sâu vào Vi Tế Tâm nên cái âm hưởng (ở đây là sự thanh tịnh) nó kéo dài rất là lâu. Trong ứng dụng này, thì sự thanh tịnh ập đến ngay sau khi mình mới niệm chỉ có ba lần.

    Khác với khi mình niệm mà không An Trú Chánh Niệm: Lúc này chỉ có Thô Tâm niệm mà thôi tuy rằng nó cũng biến mất nhưng nó có lại liền. Cách này là dậm chân tại chỗ y như khi nhảy đầm vậy: Cũng có này có nọ nhưng lại không đi đâu xa cả.

    So sánh hai cách công phu trên, mình có thể nói là cách có An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt y như cảnh một lực sĩ dùng xà beng thọc sâu xuống đất và bẩy hòn đá (thói quen hay tạp nhiễm) lên. Do cách này, hòn đá lung lay và có thể bị bật gốc. Còn cách niệm mà không an trú thì là cảnh người lực sĩ dùng sức của mình mà xô cục đá. Cục đá có thể lung lay nhưng không thể bật gốc được.

    7. Hỷ Lạc

    Coi vậy chớ tài liệu này, và cũng như những tài liệu khác đều lại thiếu cái phần quan trọng bậc nhất đó là kỹ thuật An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt. Không có cái này thì không có cái cảm giác an vui theo cái kiểu tẩm ướt, tràn đầy, sung mãn y như kinh đã nói có nghĩa là tới trạng thái Sung mãn thì khi để ý đến cái đầu gối thì cũng thấy nó... vui. Cảm giác đặc biệt này chỉ dành cho những ai biết cách An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt. Mọi người khác thì không cách gì mà có được cái cảm giác An Vui một cách chắc nịch này.

    8. Nhất Tâm Bất Loạn

    Nói gì thì nói, nhưng khi dùng Niệm để mà tu thì:

    - Nhất Tâm là phải thấy.

    - Không hoặc là chưa Nhất Tâm là không thấy.

    - Nhất Tâm Bất Loạn là khi niệm cái gì là thấy cái đó.

    Ví dụ như niệm A Di Đà Phật mà thấy ánh sáng là Nhất Tâm nhưng chưa... Bất Loạn được. Nhưng khi niệm A Di Đà Phật mà thấy được Ngài là Nhất tâm và Bất Loạn. Còn niệm A Di Đà Phật mà không thấy gì cả thì chỉ là Tạp Niệm, hay là niệm chưa có lực.

    Muốn cho có lực thì phải biết An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt. Khi biết cách An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt một cách "Nhu Nhuyễn" và "Dễ Sử dụng" thì trong bọn lubu có những oắt tỳ chưa sạch mũi xanh chỉ cần 1 niệm mà thôi thì những oắt tỳ này đã thấy Ngài A Di Đà Phật rồi. Điều này còn lẹ hơn cả trong kinh (Phải là 10 niệm).

    Mặt khác bọn lubu cũng chơi cái trò luyện tập... "Thân Nhất Tâm".

    Bài tập có ba trình độ:

    1. Trình độ thường: Hành giả cầm cái xâu chuỗi và đi ngủ, sáng thức dậy thì

    vẫn cầm thì đó là trình độ sơ cấp của "Thân Nhất Tâm". Trong khi ngủ mà nếu rớt thì lại giựt mình thức dậy mà tìm cái xâu chuỗi: Đó là dấu hiệu đầu tiên của "Thân Nhất Tâm"

    2. Bắt ấn và đi ngủ. Sáng thức dậy vẫn bắt ấn: Trình độ Trung bình của "Thân Nhất Tâm"

    3. Giữ một thế ngủ, tay cầm xâu chuỗi, tay bắt ấn và đi ngủ: sáng thức dậy vẫn y chang như trước khi đi ngủ: "Trình độ cao đẳng của Thân Nhất Tâm".

    Đức Bổn Sư ngủ với tư thế tự nhiên khi Ngài Nhập Tứ Thiền Hữu Sắc, có nghĩa là Ngài nằm tư thế Nhập Niết Bàn. Ngài cũng khởi sự nằm bình thường như bọn mình, nhưng tới khi Ngài nhập vào Tứ Thiền thì tự động thân thể của Ngài lạ vào cái thế khi Ngài Nhập Niết Bàn.

    II. Tứ Niệm Xứ

    Trong Vipassana cái khó hiểu nhất là cái câu An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt. Như trong bài kinh quán niệm hơi thở của Trung Bộ Kinh tập ba:

    http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung118.htm

    Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và Trú Niệm Trước Mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô; Chánh niệm, vị ấy thở ra.

    Nay lại bàn tiếp:

    Và sau đó là hàng loạt chi tiết như: Chánh niệm vị ấy thở vô; chánh niệm vị ấy thở ra. Thông thường thì hành giả hay thông qua cái chi tiết trên (Trú Niệm Trước Mặt).p>

    Và nhảy vào làm ngay vipassana ngay trên cảm giác của thân thể hay ngay trên những biểu hiện của tâm thức. Hành động vội vàng này cũng giúp hành giả vào được một ít thanh tịnh này nọ. Nhưng sự thanh tịnh theo kiểu của các bậc Thánh (như Tu Đà Hườn, Tu Đà Hàm,...) thì chưa được.

    Tại sao? Là vì:

    Tuy rằng sau một thời gian thực tập như trên thì cái cảm giác của "Vô Thường" nó có xuất hiện, nhưng tình trạng này chỉ là tình trạng... ba chớp ba nháng, và chưa được thường trú.

    Do chưa được thường trú nên hạnh phúc Giải thoát chưa hiện tiền. Do hạnh phúc Giải Thoát chưa hiện tiền nên quả vị Bậc Thánh còn bấp bênh.

    Ví dụ như khi gặp chuyện bực mình thì hành giả bị lôi cuốn ngay vào đó liền và do tính cách bị lôi cuốn vào đó nên tham sân si cứ loạn xạ cả lên.

    Khác với cảnh của Đức Vua Bình Sa Vương, với quả vị Tu Đà Hườn cùng với nghiệp sát cao như núi Hy Mã Lạp Sơn! Trong đoạn trích dẫn sau đây, quý Bạn sẽ thưởng thức phản ứng của người Thánh tăng này khi gặp chuyện trắc trở theo kiểu "trời ơi, đất hỡi" này!

    Trích Đoạn từ cuốn "Đức Phật và Phật Pháp" của Narada

    http://www.budsas.org/uni/u-dp&pp/dp&pp11.htm

    [...]

    Hoàng tử Ajatasattu (A Xà Thế) bị Devadatta (Đề Bà Đạt Đa) xúi giục, âm mưu sát hại vua cha là Bimbisara (Bình Sa Vương) để chiếm ngôi. Nhưng công việc bại lộ, Ajatasattu bị bắt quả tang, và người cha đầy lòng bi mẫn không đành xử phạt xứng đáng như quần thần xin, mà còn nhường ngôi vàng cho hoàng tử, vì thấy con thèm muốn làm vua. Để trả ơn, vị hoàng tử bất hiếu vừa lên ngôi liền hạ ngục cha và ra lệnh bỏ đói cho chết dần. Chỉ một mình hoàng thái hậu được phép vào thăm. Mỗi khi đi, bà giấu đồ ăn trong túi áo đem cho chồng. A Xà Thế hay được quở trách mẹ... Sau lại, bà giấu trong đầu tóc. A Xà Thế cũng biết được. Cùng đường, bà tắm rửa sạch sẽ rồi thoa vào mình một thứ đồ ăn làm bằng mật ong, đường và sữa. Vua gọt lấy món ăn này để nuôi sống. Nhưng Ajatasattu (A Xà Thế) cũng bắt được, và cấm hẳn mẹ không cho vào thăm vua cha nữa.

    Lúc ấy Bimbisara (Bình Sa Vương) cam chịu đói, nhưng lòng không oán trách con. Ngài đã đắc Quả Tu Đà Hườn nên thản nhiên, cố gắng đi lên đi xuống kinh hành, chứng nghiệm hạnh phúc tinh thần.

    Thấy cha vẫn vui tươi, Ajatasattu (A Xà Thế) nhất định giết cho khuất mắt nên hạ lệnh cho người thợ cạo vào khám, lấy dao bén gọt gót chân vua cha, xát dầu và muối vào rồi hơ trên lửa nóng cho đến chết. Khi người cha bất hạnh thấy thợ cạo đến thì mừng thầm, ngỡ rằng con mình đã ăn năn hối cải, cho người đến cạo râu tóc để rước về. Trái với sự ước mong của Ngài, anh thợ cạo đến chỉ để thi hành lệnh dã man của Vua A Xà Thế một cách tàn nhẫn, đem lại cho Ngài một cái chết vô cùng thê thảm.

    [...]

    Nay, đệ lại bàn tiếp về chi tiết quan trọng trên:

    Đây là cái mồ chôn tập thể của những ai đang miệt mài tập vipassana mà không biết cách "An Trú Chánh niệm Đằng Trước Mặt"

    Do không biết cách "An Trú Chánh niệm Đằng Trước Mặt" mà suốt thời gian miệt mài sati, hành giả chỉ có thể chơi với Thô Tâm mà thôi, còn Vi Tế Tâm thì chưa đụng tới được.

    Chuyện này, cũng y như trò chơi "Đập đầu con chó cỏ" ở các chợ phiên. Người chơi chỉ cần cầm cái búa và đập lên đầu những con chó cỏ sẽ trồi lên từ những cái hang. Con chó trồi và khi người chơi đập được vào đầu nó thì nó lại thụt xuống và con khác lại trồi lên...

    Cảnh này y chang như tình trạng làm vipassana mà không có biết:

    "An Trú Chánh niệm Đằng Trước Mặt"

    Tư Tưởng, y như những con chó cỏ, nó cứ trồi lên và khi mình nhìn ra được nó, y như lúc người chơi dùng búa đập trúng vào đầu của con chó cỏ, thì nó lại biến mất hay đúng hơn là nó lại chìm xuống luồng Bhavanga. Và rồi từ đó nó lại tiếp tục trồi lên, để rồi mình lại nhìn ra nó và nó lại chìm xuống luồn Bhavanga. Chu kỳ này cứ lập đi, lập lại bất tận. Tạo nên một sự thanh tịnh nào đó nhưng chưa phải là sự thanh tịnh của các bậc thánh.

    Kỹ thuật:

    Để thực hiện thật đúng lời dạy của Đức Phật, bọn mình phải biết cách"An Trú Chánh niệm Đằng Trước Mặt":

    Khi theo dõi hơi thở. Hành giả nhắm mắt 100% và dùng trí tưởng tượng của mình mà tưởng tượng ra: Một cái khung hình trong đó có cái bụng của mình và cái bụng đó (cái bụng trong khung hình) đang phồng xẹp theo cái bụng thật của mình, khi mình thở.

    - Trở ngại: Vô số kể, khó vô cùng vì nó (cái bụng trong khung hình) không thèm ăn khớp với cái bụng thật của mình. Hình ảnh thì lúc có, lúc không, cứ mờ mờ, ảo ảo thấy mà chán!

    - Tinh tấn: Cứ làm như vậy sau một thời gian, thì sẽ cảm thấy rằng:

    1. Mức độ "bị lo ra" tan biến, vì độ tập trung tư tưởng nó mạnh hơn.

    2. Do mình đã... quyến rũ được nguyên con "cái tâm" (Gồm cả Thô tâm và Vi tế tâm) vào công việc làm vipassana

    3. Do nguyên con "cái tâm" nó làm nên khi nó phát hiện ra cái Vô Thường thì cái Vô Thường nó trụ lâu dài hơn. Và có thể, nếu tinh tấn, thì mình đạt được quả vị Thánh Tăng và sống rất là hạnh phúc bất chấp chuyện gì xảy ra cho mình, y như vua Bình Sa Vương với đứa con cực kỳ bất hiếu kia.

    III. Tranh Chăn Voi - Nghệ Thuật Điều Tâm

    Tranh Chăn Voi

    1. Quy Trình

    a) Tu Sĩ:

    Điều kiện: Nói Thật và Có Hiếu.

    Đề mục: Phải hợp với Biệt Nghiệp, Từ 2008 cho tới hiện nay, trên mạng chỉ có: hoasentrenda.com

    Pháp Khí:

    1. Búa Chú Tâm: An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt (Thiền Sư giơ búa)

    2. Dây Tỉnh Thức: Kiểm Tra Tư Tưởng Liên Tục

    b) Giai Đoạn:

    Mới bắt đầu, tâm thức hành giả là: Voi Phàm Phu, và Khỉ Ảo Giác của Bản Ngã.

    Hành giả cảm thấy tâm rất là loạn động và khó làm theo ý của hành giả (đề mục xuất hiện từ 0 giây cho tới 40 giây).

    Hành giả đã làm chủ phần nào tâm thức: Và đã cảm nhận được sự dao động của Thỏ Vi Tế Tâm. (Đề mục xuất hiện từ 40 cho tới 70 giây).

    Hành giả "một mất một còn" để lên Tứ Thiền Hữu Sắc (Đề Mục xuất hiện từ 70 cho tới vài phút).

    Hành giả rơi vào tình trạng lý tưởng để tu hành: Đạo đã nhiều hơn Đời. Thưòng Trụ Tam Bảo đang thành hình.

    Công phu bị chậm lại chút đỉnh do những cái gợn nhẹ của Tham Sân Si. Thường Trụ Tam Bảo đang ở vào giai đoạn cuối.

    Hành giả có thể nhập Đại Định với đề mục: từ 1 giờ cho tới 1 tuần và có khi cả tháng.

    Giai đoạn vào Vô Sắc Định, làm Minh Sát Tuệ trong lớp định này thì mới có hiệu quả.

    Diệt Thọ Tưởng Định (Hữu Dư Niết Bàn). Cực kỳ khó khăn: "Voi đi ngược". Yếu Tố Thành Công:

    Tu sĩ: (70%)

    Pháp Khí và Giai đoạn: (30%)

    2. Tranh Chăn Voi - Diễn Giải

    Một bức tranh tuyệt kỷ về nghệ thuật điều tâm: Tranh Chăn Voi. Phát tâm tu hành: (Góc phải: Núi và cây)

    Tuy rằng đã được nhấn mạnh: Tham Sân Si là "ba ngọn núi ngoại khổ" (trong hình hai ngọn núi rưởi) thì vẫn có người chỉ nhận thức là Tham Sân Si cao lắm chỉ to bằng ba cái cây cổ thụ cũng thuộc diện "quá khổ" ở ngay sau hè.

    Do tình trạng sai lầm này mà hiếm khi có người quyết tâm tu hành cho đúng lắm.

    Dân nghiệp dư (tu tài tử) do nhìn gần nên tưởng rằng đây chỉ là ba cái cây cổ thụ sau hè (ba cây sau chùa), nên dự trù:

    Sau khi tớ ăn uống no say, có chút đỉnh vốn liếng rồi! Là ta vác búa ra làm vài nhác là có thể đốn tận gốc!

    Dân chuyên nghiệp thì do nhìn xa hơn nên nhận thấy đây là ba ngọn Hy Mã Lạp Sơn nên việc sang bằng chỉ còn tính được ở mức độ làm đều đều và theo kiểu: Cần cù bù khả năng! Họ hiểu rõ đây là không phải một sớm, một chiều mà làm xong được.

    Đứng nhìn từ nhịp cầu 12 nhân duyên (12 giòng nước), Thiền Sư bắt đầu đi chập chững những bước điều tâm đầu tiên.

    Lúc đầu là Thiền Sư nhìn theo cái tâm. Và nhận thấy rằng cái tâm gồm hai phần Voi Tâm Thức Phàm Phu và Khỉ Ảo Giác của Bản Ngã.

    Hai thành phần này rất là u mê, khó dạy bảo theo kiểu muốn đi đâu thì cứ đi. Và mình (Thiền Sư) cứ phải theo đuôi nó hoài mặc dù đã trang bị đầy đủ dụng cụ để khuất phục như dây nài (Sự Tỉnh Thức) và búa (Sự Chú Tâm).

    Giai đoạn (1) này thì Khỉ lại dẫn Voi chạy lung tung ở phía trước, không có thứ tự. Lúc nào Khỉ cũng nói chuyện với Voi và lôi cuống Voi chạy hết ga sau lưng mình. Cả hai không thèm để ý tới Thiền Sư. Trong hình số (1) Thiền Sư với bàn chân đứng yên ngay tại chỗ diển tả cảnh... chưa kịp phản ứng gì cả. Thiền Sư trợn mắt mà nhìn hai con Vật Bất Kham này! Mặc dù đã đưa Dây Nài Tỉnh Thức và Búa Chú Tâm nhưng Khỉ và Voi chưa bị cầm chân chút nào hết. Thiền Sư không làm gì được cả, trong giai đoạn đầu này.

    Giai đoạn (2) (chú ý vào chân của Thiền Sư) Ngài đã bước đi được vài bước trong kinh nghiệm điều tâm: Khỉ và Voi không thể nào chạy nhảy như ở giai đoạn đầu nữa. Tuy nhiên, Ngài vẫn phải chạy theo chúng bở hơi tay! Búa Chú Tâm vẫn phải giữ đằng trước mặt, Dây Nài Tỉnh Thức đã được Ngài giơ cao chuẩn bị quăng vào hai con thú Bất Kham này, vì chúng càng ngày càng gần và càng ngày càng vào tầm quăng của Ngài.

    Lúc này, Thiền Sư hay phát giác ra được sự rối loạn của tâm thức như là: Sao mà mình nghĩ bậy bạ dữ vậy nè! Hoặc là tự đánh giá: Mình còn sân quá! Mình đúng là đồ cà chớn...

    Lửa Giới Luật phực cháy hai bên đường! Lửa này vừa cản trở được hai con vật Bất Kham, nhưng đồng thời cũng cản trở chính Thiền Sư luôn (vì phương pháp đưa và giữ Búa Chú Tâm ngay đằng trước mặt lại quá khó)!

    Chưa hết, hương thơm của hoa Tham Dục (màu hồng) trong đời sống, Hương vị của trái cây Danh Vọng tuy là ở xa hai bên đường, nhưng lúc nào cũng ám ảnh và có thể đánh gục Thiền Sư bất cứ lúc nào!

    Giai đoạn (3) Vừa tầm rồi! Quăng! Voi Phàm Phu đã bị Dây Nài Tỉnh Thức quăng tròng qua đầu và dưới sức mạnh của sự Tỉnh Thức: Voi bị giật mạnh và quay đầu lại nhìn Thiền Sư vì đã bị khuất phục phần nào rồi! Voi Phàm Phu và Khỉ Ảo Giác đã bị đổi màu vào những phần chính yếu (Đầu và Cổ). Thì ngay lúc này Thiền Sư phát hiện ra Thỏ Vi Tế tâm ngồi chễm chệ trên Voi Phàm Phu từ đời nào rồi.

    (Trình độ tương đương Tam Thiền). Thỏ Vi Tế tâm này trước đó (giai đoạn 1 và giai đoạn 2) Thiền Sư chưa đủ sự Tỉnh Thức để theo dõi. Nay thì Thỏ Vi Tế tâm đã được phát hiện. Trong giai đoạn (3) này: Búa Chú Tâm đã được Thiền Sư sử dụng thuần thục, với hai chiêu: Nhu Nhuyễn và Dễ Sử Dụng. Thiền Sư không cần để ra trước mặt nữa mà chỉ thủ thế để khi hữu sự thì chỉ việc phóng Búa ra là yên tâm.

    Tới đây có hai quan niệm:

    1. Các Thiền Sư Tây Tạng quan niệm rằng: Từ Giai Đoạn (1) cho tới giai đoạn (3) này thì Thiền Sinh nên dùng Dây Nài Tỉnh Thức nhiều hơn là Búa Chú Tâm. Các Ngài bàn rằng là: Nếu mà dùng Dây Nài Tỉnh Thức nhiều hơn thì có thể khống chế sự loạn tâm. Và sau khi sự loạn tâm được khuất phục thì Các Ngài mới dùng Búa Chú Tâm để đánh gục thói hư dã dượi, buồn ngủ!

    2. Tibu không nhìn theo hướng này, có thể là tibu tập trong xứ nóng nên tibu theo sát diễn tiến trong tranh ảnh: Tibu khai triển tối đa Búa Chú Tâm để đánh cùng một lúc tính loạn động và sự dã dượi, buồn ngủ.

    Giai đoạn (4) Voi Phàm Phu dẫy chết và lồng lên dữ tợn! Thiền Sư phải thâu ngắn Dây Nài Tỉnh Thức, đứng trong tầm sát hại và vung Búa Chú Tâm tử chiến với Voi để bắt Voi Phàm Phu phải nghe lời!

    (Bằng các bài tập càng ngày càng khó, và theo sát các khẩu quyết thâm diệu và các kinh nghiệm sống về Tâm Linh.

    Và hơn lúc nào hết:

    Họ làm được là mình làm được)!

    Trong khi đó Khỉ Ảo Giác của Bản Ngã nhìn thấy hoa quả Danh Lợi mọc đầy bên lề đường, tay Khỉ chỉ chỏ và chuẩn bị chộp lấy! Giai đoạn này là ghê gớm nhất đối với Thiền Sư: Cây Trái Danh Vọng và Hương Thơm Tham Dục đã chín mùi: Chỉ cần Thiền Sư gật đầu là... Nhà lầu, và xe hơi! Trong khúc quanh nguy hiểm này:

    Ngọn Lửa Giới Luật phực lên và đốt cháy hết những rác rưởi! Thiền Sư bẻ cua và bước sang giai đoạn thứ (5).

    Giai đoạn này (5) (Giai đoạn chỉ trông cho trời mau tối, để mà dợt: Giai đoạn Đạo nhiều hơn đời) thì Voi Phàm Phu, Khỉ Ảo Giác của Bản Ngã, Thỏ Vi Tế tâm chỉ còn hoạt động yếu ớt! Thiền Sư chỉ cần quay lại trừng mắt nhìn hay là vung những nhác Búa Chú Tâm chí tử vào ngay đầu của Voi Phàm Phu (ý là bắt Voi tập bài tập Thiền Định với đề mục) thì Khỉ Ảo Giác của Bản Ngã và Thỏ Vi Tế tâm bị khuất phục toàn bộ. Những loạn động không còn làm tổn thương Thiền Sư nữa.

    Buồn phiền rơi rớt (hình ốc Loa) và niềm vui Chư Thiên bắt đầu xuất hiện (Cặp Phèn La).

    Nói như vậy:

    Không có nghĩa là Thiền Sư lè phè đi uống rượu, ăn thịt chó... hoặc là ngâm thơ, sáng tác bài hát... như sách vở đã nhồi sọ quý bà con cô bác! Mà ngược lại là đàng khác! Do Thiền Sư đã tập, và còn đang tiếp tục tập những món trên, một cách liên tục và đã... thành thói quen.

    Đề mục có khuynh hướng di chuyển theo chiều đi thẳng lên. Trình độ "Thường Trú Tam Bảo" đang thành hình.

    Giai đoạn (7) Voi có thể đi trước hay đi sau gì cũng được, tuy rằng vẫn còn vài điểm đen nhưng chỉ là chuyện nhỏ. Khỉ Ảo Giác của Bản Ngã vái lạy Thiền Sư và giả từ. Trong giai đoạn này chỉ còn vài cái gợn nhẹ của tâm thức. Như là gợn nhẹ Sân hận, gợn nhẹ Tham ái,... Tuy rằng những vấn đề trên vẫn được Thiền Sư chú ý và biết đến nhưng tính cách nguy hiểm thì đã qua lâu lắm rồi.

    Tứ Thiền Hữu Sắc:

    Thường Trú Tam Bảo đang ở vào những giai đoạn cuối: Thiền Sư đã có thể thấy được "ai đó" đang ngồi hay đứng trên đảnh của mình.

    Thiền Sư đã có thể trao truyền cách bắt ấn.

    Giai đoạn (9) Bạch Tượng nằm ngủ Thiền Sư vào giai đoạn Nhập Đại Dịnh. Hành giả có thể nhập Chánh Định vào đề mục trong vòng một ngày, một tuần và ngay cả Tháng cũng còn thấy dễ dàng!

    Do đó cho nên, Bà con cô bác sẽ đọc không biết bao nhiêu là Sách Vở và nghe rất là nhiều Băng Thuyết Pháp nói về chuyện này nhưng chưa có một ai làm cho xong! Toàn là nói và tưởng tượng không mà thôi!

    Nguyên tắc là phải bò vào cõi Vô Sắc để có thể đánh cận chiến với khối tư tưởng, thì may ra nó mới yên.

    Giai đoạn (11) Hành giả cầm gươm lửa Trí Tuệ và vào Diệt Thọ Tưởng Định. Ngọn lửa cuối cùng: Lửa Giải Thoát Tri Kiến!

    Tập trật là thành ông tiên bay lơ lững... thấy mà ớn óc. Nhận Xét:

    Những kết quả hiển nhiên khi thiền định từ giai đoạn (5) trở lên như là: Bớt Khổ tâm (Ốc Loa), Hỷ Lạc của Chư Thiên (Đôi phèn la), Hương Hoa Trí Tuệ (Hoa Xanh Dương) mà có thể dịch là hiểu biết do trực giác, Thiên Nhãn (Tâm Kính Đàn) tất cả đều được cố ý vẽ nằm ngoài con đường tu hành, tức là chỉ nằm ở bên lề.

    Đây là cách diễn tả rất đúng với Chánh Pháp trong khi đang hướng về Niết Bàn để tu.

    Điều lý thú mà người vẽ tranh đã tóm tắt nguyên Con Đường này bằng hai hình vẽ nhỏ xíu trên cao, bên góc trái của tấm hình:

    1. Sáu chấm nhỏ màu trắng:

    Đó là sáu "Công Đoạn" mà Thiền Sư nên làm trước khi thành Phật. Tibu không nhìn ra được những giai đoạn này. Sau khi bàn với Nhí thì Nhí cũng... chịu thua. Nhưng liền sau đó, tibu lại tìm ra: Nhìn nguyên cái hình thì có sáu con đường nằm ngang, đường cuối cùng (Thứ sáu) là đường của cầu vòng (cõi Vô Sắc) và là "công đoạn" cuối để "Mình Chiến Thắng Chính Mình" (Nhí đặt tên).

    2. Kế đó là cái cục màu nâu và cái vòng màu trắng bao quanh:

    Cục màu nâu tượng trưng cho "Trái Đất" và cái vòng màu trắng lại tượng trưng cho "Con Đường Tu Đã Được Minh Họa" ở phía dưới.

    Chưa hết!

    Vòng tròn, có màu trắng và khép kín này, còn có một ý nghiã nữa là: Đây là con đường tu hành để thành Phật dành riêng cho Con Người.

    Nhí hiểu và đặt tên là: "Bài Học Đi Vào Phật Đạo".

    Cũng Lại Chưa hết: Một thành viên trong Diễn Đàn lại phát hiện ra:

    - Bên kia cũng có một cái cục với một cái vòng nâu! Nó có ý nghiã gì vậy Thầy?

    Phải đợi Nhí về và tibu hỏi Nhí cho ra đầu ra đũa.

    Nhí vừa lên mạng là bị hỏi liền, tất nhiên, câu hỏi không dễ dàng! Tuy nhiên, Nhí thì có cái gì mà tìm không ra!

    Sau mười phút (Nhập Chánh Định), Nhí trình bày:

    - Con thấy đó là một pháp tu,

    - So với phương pháp của ông Phật thì nó có đúng không?

    - Đúng.

    Và tibu nói với Nhí rằng:

    - Bên kia lại có cái cục nhưng cái vòng lại là màu trắng!

    Sau mười phút (Nhập Chánh Định), Nhí xác quyết:

    - Muốn tu thành Phật thì phải đi qua cái màu nâu. Còn chê cái nâu thì không thể thành Phật được!

    Tibu nhận xét:

    - Con nói đúng hoàn toàn vì cái màu nâu là... Vô Sắc. Không qua Vô Sắc là không đụng tới được tư tưởng nên không thể nào vào Diệt Thọ Tưởng Định được.

    Tới bây giờ thì mới là hết thiệt đây:

    Thành viên trong diễn đàn lại đặt câu hỏi:

    - Sao mà có hai con đường "Cầu Vòng" vậy, Thầy?

    - Một con đường có Thiền Sư và Bạch Tượng "de lui"! Cưỡi Voi mà "de lui" là khó làm lắm! Dám nói de lui là vì theo chiều tiến của các "Công Đoạn". Và con đường kia thì thuần túy Vô Sắc, phải có ngọn lửa "Giải Thoát Tri Kiến" thì nó mới cùng chiều được.

    Và câu hỏi cuối cùng của thành viên này là:

    - Ngay ngực của Thiền Sư lại đi ra hai con đường "Cầu Vòng", có ý gì không Thầy?

    - Khi mà đã tập xong thì Thiền Sư phân biệt rất là dễ dàng hai con đường "Vô Sắc": Một con đường thành ông Chư Thiên bay lơ lững, và một con đường đi vào Niết Bàn.

    Trên cùng, với con mắt chuyên nghiệp: Hoạ Sĩ Thiền Sư nhắn lại thế gian là: Tuy trong kinh không hề gọi Ngũ Uẩn là "núi".

    Nhưng sau khi làm xong với bao nhiêu khó khăn.

    Họa Sĩ Thiền Sư đã dùng bốn ngọn núi rưởi để diễn tả: Ngũ Uẩn thật ra là "Năm Ngọn Núi Quá Khổ" và không phải là chuyện dể khi muốn sang bằng nó thành "Giai Không" được đâu.

    So sánh với 10 bức tranh chăn trâu, bức tranh này rõ hơn nhiều về cả phần kỹ thuật điều tâm, lẫn ý nghĩa thâm sâu.

    Hết.


    Tâm Chú HoaSenTrenDa